Thông tin tuyên truyền

Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
Ngày đăng 11/01/2016 | 14:50  | Lượt xem: 452

Dự thảo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan xem xét, cho ý kiến và thẩm tra; trình xin ý kiến Quốc hội tại kỳ họp thứ 8 và thông qua ngày 25/6/2015 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá XIII theo đúng quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Đặc biệt để khẳng định tính thống nhất trong công tác bẩu cử, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân lần này đã kế thừa và phát triển các quy định trong các luật bầu cử hiện hành là Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1997 và các lần sửa đổi; Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 và các lần sửa đổi, đồng thời bổ sung theo yêu cầu của Hiến pháp mới, khắc phục những hạn chế, bất cập liên quan đến quy trình, thủ tục trong bầu cử; pháp điển hoá một số nội dung trong hướng dẫn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.

Những điểm thay đổi của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân so với các luật cũ

I. Về tên gọi:

Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân số 85/2015/QH13 (sau đây gọi là Luật bầu cử 2015) được Quốc hội nước Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25/6/2015 thay thế cho Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1997; Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 và các lần sửa đổi cùng các văn bản hướng dẫn khác của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về công tác bầu cử.

II. Cấu trúc, bố cục của luật: gồm có 10 chương với 98 điều.

III. Phạm vi điều chỉnh: Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định về cách thức lựa chọn đại biểu, tổ chức công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

IV. Cách thức, cơ quan tổ chức bầu cử:

Hội đồng bầu cử Quốc gia là một thiết chế hiến định mới trong Hiến pháp năm 2013. Hội đồng bầu cử Quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập có nhiệm vụ tổ chức bầu cử Đại biểu Quốc hội, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (theo điều 14 Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1997 cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử là Hội đồng bầu cử do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thành lập)

Luật bầu cử năm 2015 lần này quy định mới, cụ thể hoá ba nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng bầu cử Quốc gia gồm:

1. Nhiệm vụ, quyền hạn chung của Hội đồng bầu cử Quốc gia đối với công tác bầu cử (6 nhiệm vụ, quyền hạn):

- Tổ chức bầu cử Đại biểu Quốc hội

- Chỉ đạo, hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu HĐND các cấp

- Chỉ đạo công tác thông tin tuyên truyền và vận động bầu cử

- Chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu cử

- Kiểm tra đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử

- Quy định mẫu hồ sơ ứng cử, mẫu thẻ cử tri, mẫu phiếu bầu cử, nội quy phòng bỏ phiếu, các mẫu văn bản khác trong công tác bầu cử.

2. Nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng bầu cử Quốc gia đối với bầu cử Đại biểu Quốc hội trong đó có nhiệm vụ trình Quốc hội kết quả xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội được bầu và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng bầu cử Quốc gia đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, cụ thể:

Đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, Hội đồng bầu cử Quốc gia có những nhiệm vụ, quyền hạn nổi bật sau (điều 16 Luật bầu cử 2015):

- Chỉ đạo, hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

- Hướng dẫn hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu HĐND

- Kiểm tra việc tổ chức bầu cử đại biểu HĐND

- Huỷ bỏ kết quả bầu cử HĐND và quyết định ngày bầu cử lại ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử đại biểu HĐND có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Ngoài ra Luật bầu cử 2015 cũng quy định các điểm mới (tại chương III) về nguyên tắc hoạt động, cơ cấu tổ chức của Hội đồng bầu cử Quốc gia; nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các uỷ viên và bộ máy giúp việc của Hội đồng bầu cử Quốc gia; quy định về cách thức thành lập, chức năng nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử và thời điểm kết thúc nhiệm vụ của các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương.

Đối với cấp quận, huyện thị xã, thời gian thành lập Uỷ ban bầu cử có thay đổi như sau: Chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, UBND cấp huyện, UBND cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực HĐND và Ban Thường trực UB MTTQ VN cùng cấp quyết định thành lập Uỷ ban bầu cử ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương để tổ chức bầu cử HĐND cấp tương ứng (Luật bầu cử đại biểu HĐND năm 2003, sửa đổi tại Luật số 63/2010/QH12 năm 2010 là 95 ngày)

V. Thẩm quyền ấn định ngày bầu cử

Quyết định ngày bầu cử toàn quốc đối với cuộc bầu cử Đại biểu quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; quyết định thành lập Hội đồng bầu cử Quốc gia là thuộc Quốc hội (Luật bầu cử đại biểu Quốc hội 1997, Luật bầu cử đại biểu HĐND 2003 quy định do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thực hiện)

VI. Quy định về cử tri:

Điểm mới trong Luật là tại khoản 5 điều 29 mở rộng việc cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi người đó đang bị tạm giam, đang được giáo dục bắt buộc, cai nghiện bắt buộc (Luật bầu cử đại biểu Quốc hội 1997, Luật bầu cử đại biểu HĐND năm 2003 và luật sửa đổi năm 2010 quy định không cho phép người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri)

Về khu vực bỏ phiếu, Luật bầu cử 2015 cũng mở rộng thêm một điểm mới tại khoản c điều 11 quy định thêm về khu vực bỏ phiếu riêng là cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, trại tạm giam ((Luật bầu cử đại biểu Quốc hội 1997, Luật bầu cử đại biểu HĐND năm 2003 và luật sửa đổi năm 2010 không có điểm này)

VII. Hiệp thương ứng cử:

Điểm mới trong Luật bầu cử 2015 là số lượng người dân tộc thiểu số được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội, đảm bảo có ít nhất 18% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số. Số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch Ban Chấp hành trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, đảm bảo có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ.

Cùng với đó, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người được giới thiệu để ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã trong đó đảm bảo 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân là phụ nữ; số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương. (Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997, Luật bầu cử đại biểu HĐND năm 2003 và Luật sửa đổi năm 2010 không quy định tỷ lệ này)

Hiện có 10 tỉnh, thành phố thực hiện việc thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội và Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Luật tổ chức chính quyền địa phương mới được ban hành đã quy định mỗi cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND. Do đó, Luật này đã có quy định riêng đối với việc tổ chức bầu cử tại các huyện, quận, phường thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường.

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2015.

Chi tiết vui lòng xem tại đây.