Thông tin tuyên truyền

Việt Nam với việc khắc phục hậu quả chiến tranh hóa học
Ngày đăng 05/08/2016 | 10:15  | Lượt xem: 354

Từ lâu, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm sâu sắc đến vấn đề chất độc da cam

Năm 1980, Ủy ban Quốc gia điều tra hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam (Ủy ban 10 – 80) được thành lập. Ủy ban này đã tiến hành nhiều công trình nghiên cứu, tổ chức nhiều hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế nhằm xác định quy mô, tác hại của cuộc chiến tranh hóa học đối với môi trường và con người.

Ngày 16/6/1997, tại Công văn số 725-CV/VPTW, Văn phòng Trung ương Đảng thông  báo ý kiến của Thường vụ Bộ Chính trị về vấn đề chất độc hóa học do Mỹ sử dụng ở Việt Nam: "chất độc hóa học do Mỹ dùng trong chiến tranh gây ra cho nhân dân ta những hậu quả nặng nề và lâu dài. Chúng ta cần chủ động, khẩn trương nghiên cứu, đánh giá chính xác và đầy đủ những hậu quả này và có những biện pháp cơ bản,  toàn diện khắc phục".

Ngày 03/4/1998, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 74/1998/QĐ-TTg tiến hành xác định nạn nhân bị hậu quả hóa chất do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam để có cơ sở cho việc đề xuất chủ trương và giải pháp cơ bản khắc phục hậu quả. Cuộc điều tra tiến hành trong hai năm 1998-1999 trên phạm vi cả nước. đối tượng là những người từng công tác chiến đấu, sinh sống ở những vùng bị rải hóa chất trong chiến tranh mà bản thân hoặc con đẻ của họ bị dị dạng, dị tật, mắc bệnh hiểm nghèo do hóa chất độc gây nên. Sau đó có điều tra bổ sung vào năm 2002 và 2004.

Ngày 01/3/1999, Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam (Ban Chỉ đạo 33) được thành lập theo quyết định số 33/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Ban Chỉ đạo 33 có chức năng, nhiệm vụ được Thủ tướng giao là xây dựng kế hoạch hàng năm, kế hoạch dài hạn; chỉ đạo, quản lí và tổ chức triển khai kế hoạch hành động từ Trung ương đến địa phương, khắc phục hậu quả CĐDC.

Ngày 05/7/2002, Bộ Chính trị ra Thông báo số 69-TB/TW về chủ trương của ta đối với giải hậu quả của việc Mỹ sử dụng chủ trương của ta đối với việc giải quyết hậu quả của việc Mỹ sử dụng chất độc hóa học trong thời kì chiến tranh ở Việt Nam Thông báo nêu rõ: "Giải quyết hậu quả chất độc da cam (dioxin) là vấn đề lâu dài, nhưng cũng là vấn đề rất cấp bách hiện nay… Do vậy, thời gian tới cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt và có những biện pháp mạnh mẽ hơn để giải quyết có hiệu quả vấn đề phức tạp này". "Cần có chế độ chính sách và đầu tư kinh phí phù hợp để hỗ trợ, chăm sóc, chữa trị cho các nạn nhân (là cán bộ chiến sĩ đã tham gia kháng chiến cũng như các đối tượng khác) bị nhiễm CĐDC". "Tăng cường vận động một số nước, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ… có khả năng hỗ trợ khắc phục hậu quả CĐDC, giúp đỡ các nạn nhân".

Ngày 05/02/2004, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 16/2004/QĐ-TTg về trợ giúp đối với các hộ gia đình có từ hai người trở lên không tự phục vụ do hậu quả chất độc hóa học.

Ngày 27/4/2004, Kế hoạch hành động 2004 – 2010 khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam đã được phê duyệt tại Quyết định số 67/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Ngày 29/6/2005, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11 về ưu đãi người có công với cách mạng, trong đó qui định người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ của họ bị dị dạng, dị tật, suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt hoặc lao động là đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng.

Ngày 06/4/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2010/NĐ-CP, theo đó, mức trợ cấp chính của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học bằng mức trợ cấp của bệnh binh.

Ngoài việc ban hành các chủ trương, chính sách, nhà nước đã chi những khoản kinh phí lớn hàng năm để trợ cấp, chăm sóc sức khỏe nạn nhân, triển khai các dự án tẩy độc, phục hồi môi trường sinh thái. Chỉ tính từ năm 2000 đến nay, Nhà nước đã chi hàng trăm tỉ đồng cho các đề tài nghiên cứu khoa học, triển khai các dự án chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng cho nạn nhân CĐDC, hỗ trợ một số vùng đặc biệt khó khăn do ảnh hưởng nặng nề của CĐDC. Hàng năm Nhà nước chí hơn 50 triệu USD để trợ cấp hàng tháng cho các nạn nhân CĐDC.

Một số kết quả bước đầu

Từ năm 2001 đến nay, hơn 30 đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước trong chương trình Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Vệt Nam (Chương trình 33) đã được triển khai. Kết quả nghiên cứu đã phục vụ thiết thực cho việc khoanh vùng, tẩy độc và phục hồi môi trường; xây dựng chính sách hỗ trợ nạn nhân; điều tra, thu thập, lưu giữ các bằng chứng về hậu quả CĐDC phục vụ công tác tuyên truyền và đấu tranh ngoại giao; soạn thảo luận cứ xây dựng khu chứng tích chiến tranh hóa học.

Công tác tẩy độc, khắc phục ô nhiễm môi trường được triển khai tích cực. Đã xác lập được công nghệ chôn lấp có kiểm soát, thử nghiệm công nghệ chôn lấp tích cực (kết hợp cô lập với sinh học) với qui mô 3.600 mđất nhiễm dioxin và hoàn thành việc xây dựng khu chôn cất, cô lập đất nhiễm nhiễm dioxin ở sân bay Biên hòa với thể tích 97.000m3. Tiến hành một số biện pháp có hiệu quả nhằm ngăn chặn, chống lan tỏa chất độc ra môi trường như: đóng rắn ( bê tông hóa) 20.000 m2 đất bề mặt khu trộn và nạp chất độc ở sân bay Đà Nẵng; xây dựng hệ thống mương nắn dòng chảy để hạn chế nước mưa chảy qua khu nhiễm; xây dựng hệ thống cống lọc chứa than hoạt tính ở cả 3 điểm nóng (sân bay Đà Nẵng, sân bay Biên Hòa, sân bay Phù Cát) để hấp thụ dioxin trong nước nhiễm hạn chế chất độc bị cuốn trôi theo nước ra môi trường. Hiện đang chuẩn bị xử ký đất nhiễm ở sân bay Đà Nẵng bằng phương pháp "giải hấp nhiệt" ở sân bay Phù Cát năm 2008, Cộng hòa Séc đã cam kết xử lý đất nhiễm dioxin, nhưng do suy thoái kinh tế năm 2009 nên dự án này bị chậm lại.

Công tác phục hồi các vùng đất suy thoái, phục hồi rừng các hệ sinh thái vốn có , các loài đong thực vật hoang dã đã được đẩy mạnh. Ngay trong thời kỳ chiến tranh, nhân dân tỉnh Cà Mau đã trồng hơn 10.000 ha rừng ngập mặn, góp phần bảo vệ an toàn cho khu căn cứ cách mạng. Trong 3 năm (1975-1977), Tp. Hồ Chí Minh đã trồng được hơn 27.000 ha rừng đước ở rừng ngập mặn Cần Giờ, biến nơi đây trở thành một trong 4 khu sinh quyển của quốc gia. Gần đây, hơn 282.000 ha rừng mới trồng trên các vùng đất bị phun rải chất độc hóa học là kết qủa của sự lồng ghép với chương trình trời mới 5 triệu ha rừng. Các dự án phục hồi rừng đã đạt kết quả khả quan tại Đắk Lắk, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước; Rừng ngập mặn Cần Giờ, Cà Mau.

Công tác chăm sóc và phục hồi sức khỏe của nạn nhân luôn được quan tâm và thực hiện có hiệu quả. Hiện có hơn 200.000 người tham gia kháng chiến và con đẻ  của họ bị nhiễm CĐDC được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Có trên 50% hộ gia đình có người tàn tật nặng, trong đó có nạn nhân CĐDC được chỉnh hình, phục hồi chức năng; 25% trẻ em tàn tật, trong đó có trẻ em bị hậu quả gián tiếp của CĐDC được đi học trong các trường hòa nhập và chuyên biệt. Cả nước hiện có 12 Làng Hòa Bình, Làng Hữu Nghị và nhiều trung tâm nuôi dưỡng trẻ khuyết tật, theo hình thức tập trung hoặc bán trú, nuôi dưỡng hàng ngàn nạn nhân, chủ yếu là trẻ em dị dạng, di tật do ảnh hưởng CĐDC. Trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản di truyền tai Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh đã và đang hoạt động tích cực nhằm giảm tỉ lệ sinh con dị tật. Một số địa phương đã tiến hành điều tra tổn thương tâm lý và trợ giúp tâm sinh lý cho nạn nhân CĐDC.

Hợp tác quốc tế Việt Nam - Hoa Kỳ trong nghiên cứu, khắc phục hậu quả CĐDC

Hợp tác quốc tế

Nhiều nhà khoa học quốc tế có uy tín trong lĩnh vực độc học, y học, hóa học, môi trường, pháp lý … đã chia sẻ kinh nghiệm hỗ trợ và tham gia triển khai các dự án khắc phục hậu quả CĐDC ở Việt Nam. Nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức chính phủ, phi chính phủ như Tổ chức Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Quỹ  Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Cục Hợp tác về phát triển Cồng hòa  Séc… đã có nhiều dự án giúp Việt Nam hoặc phối hợp với Việt Nam thực hiện các dự án  khắc phục hậu quả CĐDC từ nguồn tài trợ quốc tế.

Hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ

Trước năm 2000, Mỹ lảng tránh trách nhiệm.

11/2006, trong dịp Hội nghị APEC, Việt Nam – Hoa Kỳ ra Tuyên bố chung khẳng định "Hai bên nỗ lực hơn nữa để giải quyết vấn đề nhiễm độc môi trường gần các kho chất độc chứa dioxin trước đây sẽ góp phần đáng kể vào việc tiếp tục phát triển quan hệ hai nước".

02/2007, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, Michael Marine họp báo thừa nhận có nhiễm độc dioxin tại sân bay Đà Nẵng.

Từ năm 2007 tới nay, quỹ FORD, quỹ Bill và Milindagatcs, quỹ Atlantic Philanthropies đã tài trợ một số dự án như: Dự án xây dựng các công trình chống lan tỏa tạm thời tại sân bay Đà Nẵng, dự án xây dựng phòng thí nghiệm dioxin, dự án nghiên cứu các công nghệ sinh học, tẩy độc dioxin tại sân bay Đà Nẵng, dự án lượng giá toàn bộ ô nhiễm, phơi nhiễm và đề xuất biện pháp giảm thiểu từ 2010-2012…

Từ 2007 – 2009, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua khoản viện trợ 3 triệu USD/năm trong năm 2010 là 15 tỉ USD cho việc khắc phục hậu quả CĐDC ở Việt Nam. Năm 2011, chính phủ Hoa Kỳ thông báo khoản tài trợ 34 triệu USD để tẩy độc sân bay Đà Nẵng.

Tuy Hoa Kỳ đã có chuyển biến trong nhìn nhận, đánh giá và tham gia khắc phục hậu quả CĐDC, nhưng nó còn quá nhỏ bé so với hậu quả hết sức to lớn mà họ đã gây ra đối với nhân dân Việt Nam.

Một số điểm hạn chế, bất cập

Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về thảm họa da cam chưa thường xuyên, liên tục; chưa có nhiều hình thức phong phú; sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa thật chặt chẽ. Mốt số cơ quan có trách nhiệm chưa nhận thức đầy đủ tính chất nghiêm trọng của hậu quả CĐDC, do đó, kết quả thực hiện còn hạn chế.

Chưa có tiêu chí cụ thể, khoa học để xác định (hay kết luận) nạn nhân CĐDC.

Việc ban hành các chế độ, chính sách cho nạn nhân CĐDC vẫn còn bất cập. Mức trợ cấp còn thấp. Thủ tục xét hưởng trợ cấp còn phức tạp. Còn nhiều nạn nhân bị hậu quả CĐDC nằm ngoài diện thụ hưởng chính sách. Đến nay, vẫn chưa có chính sách, giải pháp hỗ trợ cho những người đã và đang công tác, sinh sống ở cách vùng bị phun rải chất độc hóa học trước đây, cũng bị bệnh hiểm nghèo và sinh con dị dạng, dị tật hoặc có nguy cơ cao nhiễm CĐDC sau 30/4/1975, kể cả các hộ dân đang sinh sống ở các vùng được xác định "điểm nóng"; Chưa có chế độ trợ cấp cho thế hệ cháu "F2"của nạn nhân CĐDC.